Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó.
Bài đọc 1: Xp 2,3; 3,12-13
Ta sẽ cho sót lại giữa ngươi một dân nghèo hèn và bé nhỏ.
Bài trích sách ngôn sứ Xô-phô-ni-a.
23Hỡi tất cả những ai nghèo hèn trong xứ sở,
những kẻ thi hành mệnh lệnh của Đức Chúa,
anh em hãy tìm kiếm Người;
hãy tìm sự công chính, hãy tìm đức khiêm nhường
thì may ra anh em sẽ được che chở
trong ngày thịnh nộ của Đức Chúa.
312Ta sẽ cho sót lại giữa ngươi một dân nghèo hèn và bé nhỏ;
chúng sẽ tìm nương ẩn nơi danh Đức Chúa.
13Số dân Ít-ra-en còn sót lại
sẽ không làm chuyện tàn ác bất công,
cũng không ăn gian nói dối
và miệng lưỡi chúng sẽ không còn phỉnh gạt.
Nhưng chúng sẽ được chăn dắt và nghỉ ngơi
mà không còn bị ai làm cho khiếp sợ.
Đáp ca: Tv 145,6b-7a.7b-8.9-10 (Đ. Mt 5,3)
Đ.Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,
vì Nước Trời là của họ.
6bChúa là Đấng giữ lòng trung tín mãi muôn đời,7axử công minh cho người bị áp bức,
ban lương thực cho kẻ đói ăn.
Đ.Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,
vì Nước Trời là của họ.
7bChúa giải phóng những ai tù tội,8Chúa mở mắt cho kẻ mù loà.
Chúa cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên,
Chúa yêu chuộng những người công chính.
Đ.Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,
vì Nước Trời là của họ.
9Chúa phù trợ những khách ngoại kiều,
Người nâng đỡ cô nhi quả phụ,
nhưng phá vỡ mưu đồ bọn ác nhân.10Chúa nắm giữ vương quyền muôn muôn thuở,
Xi-on hỡi, Chúa Trời ngươi hiển trị ngàn đời.
Đ.Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,
vì Nước Trời là của họ.
Bài đọc 2: 1 Cr 1,26-31
Những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn.
Bài trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.
26 Thưa anh em, anh em thử nghĩ lại xem: khi anh em được Chúa kêu gọi, thì trong anh em đâu có mấy kẻ khôn ngoan trước mặt người đời, đâu có mấy người quyền thế, mấy người quý phái. 27 Song những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh; 28 những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để huỷ diệt những gì hiện có, 29 hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người. 30 Phần anh em, chính nhờ Thiên Chúa mà anh em được hiện hữu trong Đức Ki-tô Giê-su, Đấng đã trở nên sự khôn ngoan của chúng ta, sự khôn ngoan phát xuất từ Thiên Chúa, Đấng đã làm cho anh em trở nên công chính, đã thánh hoá và cứu chuộc anh em, 31 hợp như lời đã chép rằng: Ai tự hào thì hãy tự hào trong Chúa.
Tin mừng: Mt 5,1-12a
1 Khi ấy, thấy đám đông, Đức Giê-su lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên. 2 Người lên tiếng dạy họ rằng:
3 “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,
vì Nước Trời là của họ.
4 Phúc thay ai hiền lành,
vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
5 Phúc thay ai sầu khổ,
vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
6 Phúc thay ai khát khao nên người công chính,
vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.
7 Phúc thay ai xót thương người,
vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
8 Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch,
vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
9 Phúc thay ai xây dựng hoà bình,
vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
10 Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính,
vì Nước Trời là của họ.
11 Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại
và vu khống đủ điều xấu xa.
12a Anh em hãy vui mừng hớn hở,
vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.”
Giáo lý cho bài giảng Chúa nhật 4 Thường niên năm A
WHĐ (27/01/2026) - Để hỗ trợ các nhà giảng thuyết thuận tiện hơn trong việc thêm giáo lý vào bài giảng, Ban Biên tập xin được trích dẫn những điểm giáo lý phù hợp với các bài đọc Kinh Thánh của lễ Chúa nhật 4 Thường niên năm A theo sự theo hướng dẫn của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích.
|
Số 459, 520-521: Chúa Giêsu là mẫu mực của các mối phúc cho các môn đệ
Số 1716-1724: Lời mời gọi đến hưởng vinh phúc
Số 64, 716: Số sót những người nghèo và khiêm nhu ấp ủ niềm hy vọng về Đấng Messia
Bài Ðọc I: Xp 2, 3; 3, 12-13
Bài Ðọc II: 1 Cr 1, 26-31
Phúc Âm: Mt 5, 1-12a
|
Số 459, 520-521: Chúa Giêsu là mẫu mực của các mối phúc cho các môn đệ
Số 459. Ngôi Lời đã làm người để trở thành gương mẫu thánh thiện cho chúng ta. “Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi…” (Mt 11,29). “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga l4,6). Và trên núi Hiển Dung, Chúa Cha đã truyền: “Hãy vâng nghe lời Người” (Mc 9,7)[1]. Người đúng là gương mẫu của các mối phúc thật và là chuẩn mực của Luật mới: “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga l5,l2). Tình yêu này đòi hỏi người ta thật sự hiến thân để đi theo Người[2].
Số 520. Trong cả cuộc đời của Người, Chúa Giêsu tỏ mình là mẫu mực của chúng ta[3]: chính Người là “con người hoàn hảo”[4], Người mời gọi chúng ta trở nên môn đệ của Người và bước đi theo Người; qua việc tự hạ của Người, Người ban cho chúng ta một gương mẫu để bắt chước[5]; qua việc cầu nguyện của Người, Người lôi kéo chúng ta cầu nguyện[6]; qua sự nghèo khó của Người, Người kêu gọi chúng ta tự nguyện chấp nhận sự thiếu thốn và những cơn bách hại[7].
Số 521. Tất cả những gì chính Người đã sống, Đức Kitô làm cho chúng ta được sống những điều đó trong Người, và Người sống những điều đó trong chúng ta. “Khi nhập thể, Con Thiên Chúa một cách nào đó đã nên một với mọi người”[8]. Chúng ta được kêu gọi nên một với Người; chính Người làm cho chúng ta, với tư cách là những chi thể của Thân Thể Người, được hiệp thông với những gì Người đã sống trong thân thể Người vì chúng ta và nên như mẫu mực cho chúng ta:
Chúng ta phải tiếp nối và hoàn thành nơi bản thân chúng ta các giai đoạn của cuộc đời Chúa Giêsu và các mầu nhiệm của Người, và thường xuyên cầu xin… để Người hoàn tất và kiện toàn những điều ấy trong chúng ta và trong toàn thể Hội Thánh Người…. Vì Con Thiên Chúa có ý truyền thông, mở rộng và tiếp tục các mầu nhiệm của Người trong chúng ta và trong toàn thể Hội Thánh Người,… hoặc bằng các ân sủng Người quyết định ban cho chúng ta hoặc bằng những hiệu quả Người muốn thực hiện nơi chúng ta qua các mầu nhiệm ấy. Bằng cách này, Người muốn hoàn tất các mầu nhiệm của Người trong chúng ta[9].
Số 1716-1724: Lời mời gọi đến hưởng vinh phúc
Số 1716. Các mối phúc là trung tâm lời rao giảng của Chúa Giêsu. Việc công bố các mối phúc là lặp lại các lời hứa đã được ban cho dân Chúa chọn khởi từ tổ phụ Abraham. Các mối phúc kiện toàn các lời hứa này, bằng cách không còn chỉ hướng đến việc thừa hưởng một mảnh đất nữa, nhưng là hướng đến Nước Trời:
“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,
vì Nước Trời là của họ.
Phúc thay ai hiền lành,
vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
Phúc thay ai sầu khổ,
vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
Phúc thay ai khát khao nên người công chính,
vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng.
Phúc thay ai xót thương người,
vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch,
vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
Phúc thay ai xây dựng hoà bình,
vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính,
vì Nước Trời là của họ.
Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả,
bách hại và vu khống đủ điều xấu xa.
Anh em hãy vui mừng hớn hở,
vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao” (Mt 5,3-12).
Số 1717. Các mối phúc phác hoạ dung mạo của Chúa Giêsu Kitô và mô tả tình yêu của Người; chúng diễn tả ơn gọi của các tín hữu, những người được đồng phận trong vinh quang của cuộc khổ nạn và sự phục sinh của Người; chúng minh hoạ những hành động và thái độ đặc trưng của đời sống Kitô giáo; chúng là những lời hứa nghịch lý, nâng đỡ niềm hy vọng trong những lúc gian truân; chúng loan báo cho các môn đệ những phúc lành và ân thưởng đã được quyết định tuy còn ẩn khuất; chúng đã được khởi đầu trong đời sống của Đức Trinh Nữ Maria và của tất cả các Thánh.
Số 1718. Các mối phúc đáp ứng khao khát tự nhiên là được hạnh phúc. Khao khát này có nguồn gốc thần linh; Thiên Chúa đã đặt niềm khao khát đó trong trái tim con người để lôi kéo họ đến với Ngài, Đấng duy nhất có thể làm thỏa mãn sự khao khát này:
“Chắc chắn mọi người chúng ta đều muốn sống hạnh phúc; và trong dòng giống loài người, không ai không đồng ý với điều này, cả trước khi nó được phát biểu cách rõ ràng”[10].
“Lạy Chúa, con phải tìm Chúa thế nào? Quả thật, khi con tìm Chúa là Thiên Chúa của con, là con tìm đời sống hạnh phúc. Con muốn tìm Chúa, để linh hồn con được sống. Vì thân xác con sống nhờ linh hồn con và linh hồn con sống nhờ Chúa”[11].
“Chỉ có Thiên Chúa mới làm no thoả”[12].
Số 1719. Các mối phúc cho thấy mục tiêu của sự hiện hữu nhân linh, mục đích tối hậu của các hành vi nhân linh: Thiên Chúa kêu gọi chúng ta đến hưởng vinh phúc riêng của Ngài. Ơn gọi này được gửi cho từng người một cách cá vị, nhưng cũng cho toàn thể Hội Thánh, là dân mới của những người đón nhận lời hứa và sống trong lòng tin vào lời hứa đó.
Số 1720. Tân Ước dùng nhiều kiểu nói để diễn tả vinh phúc mà Thiên Chúa kêu gọi con người đến hưởng: sự ngự đến của Nước Thiên Chúa[13]; sự nhìn thấy Thiên Chúa: “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8)[14]; vào hưởng niềm vui của Chúa[15]; vào chốn yên nghỉ của Thiên Chúa[16]:
“Ở đó chúng ta sẽ yên nghỉ và chiêm ngắm, chúng ta sẽ chiêm ngắm và yêu mến, chúng ta sẽ yêu mến và ca ngợi. Đó sẽ là cùng đích vô tận. Vậy chúng ta còn có cùng đích nào khác, nếu không phải là đạt tới Nước vô cùng vô tận?”[17]
Số 1721. Thiên Chúa đã đặt chúng ta ở trần gian để chúng ta nhận biết Ngài, phục vụ Ngài và yêu mến Ngài để như vậy chúng ta đạt tới thiên đàng. Vinh phúc làm cho chúng ta “được thông phần bản tính Thiên Chúa” (2 Pr 1,4) và sự sống muôn đời[18]. Với vinh phúc này, con người bước vào vinh quang của Đức Kitô[19] và vào vui hưởng sự sống của Chúa Ba Ngôi.
Số 1722. Vinh phúc như vậy vượt quá sự hiểu biết và sức lực riêng của con người. Vinh phúc đó được ban do hồng ân nhưng không của Thiên Chúa. Vì vậy, nó được gọi là siêu nhiên, cũng như ân sủng chuẩn bị con người vào vui hưởng Thiên Chúa.
“‘Phúc thay những người có trái tim trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa’. Nhưng vì sự cao cả và vinh quang khôn tả của Ngài, nên ‘không ai trông thấy Ngài mà còn sống được’, tuy nhiên, Chúa Cha, Đấng không thể đạt thấu, do tình yêu và lòng nhân hậu của Ngài, và bởi vì Ngài có thể làm được mọi sự, cũng đã ban cho những ai yêu mến Ngài điều này, là được nhìn thấy Ngài: vì ‘những gì đối với loài người là không thể được, thì đối với Thiên Chúa lại là có thể’”[20].
Số 1723. Vinh phúc được hứa ban đặt chúng ta trước những lựa chọn luân lý có tính quyết định. Vinh phúc đó mời gọi chúng ta thanh luyện trái tim khỏi những bản năng xấu và tìm kiếm tình yêu của Thiên Chúa trên hết mọi sự. Nó dạy chúng ta biết rằng hạnh phúc thật không cốt tại của cải trần thế hoặc tiện nghi, cũng không phải trong vinh quang nhân loại hay quyền lực, cũng không phải trong công trình nhân loại nào, cho dù là hữu ích, như khoa học, kỹ thuật và nghệ thuật, cũng không ở trong bất cứ tạo vật nào, nhưng duy chỉ ở nơi Thiên Chúa, là nguồn mạch mọi điều thiện hảo và mọi tình yêu:
“Ngày nay, giàu sang là vị thần vĩ đại; nhiều người, hàng lớp người tự nguyện sùng bái vị thần này. Họ đo lường hạnh phúc bằng tài sản; họ đo lường cả sự đáng kính cũng bằng tài sản.... Điều đó phát sinh do sự xác tín của chúng ta … theo đó thì có tiền thì mọi sự đều có thể. Vì vậy giàu sang là một trong những ngẫu tượng của thời đại ngày nay, và danh tiếng là một ngẫu tượng khác…. Danh tiếng, được người ta biết đến, có tiếng tăm ở trần gian, đưa đến chỗ chính danh tiếng được coi là điều thiện hảo, là điều thiện hảo cao cả, là đối tượng cho người ta kính trọng… Đó có thể được gọi là sự nổi tiếng trên báo chí”[21].
Số 1724. Mười Điều Răn, Bài giảng trên núi và giáo lý của các Tông Đồ mô tả cho chúng ta những con đường dẫn đến Nước Trời. Chúng ta tiến từng bước trên những con đường này qua những hành vi hằng ngày, được nâng đỡ bởi ân sủng của Chúa Thánh Thần. Được sinh sôi nảy nở bằng lời Đức Kitô, chúng ta từ từ mang lại hoa trái trong Hội Thánh để tôn vinh Thiên Chúa[22].
Số 64, 716: Số sót những người nghèo và khiêm nhu ấp ủ niềm hy vọng về Đấng Messia
Số 64. Qua các tiên tri, Thiên Chúa đào tạo dân Ngài trong niềm hy vọng ơn cứu độ, trong sự mong đợi Giao ước mới và vĩnh cửu dành cho tất cả mọi người[23], Giao ước đó sẽ được ghi khắc trong các trái tim[24]. Các Tiên tri loan báo ơn cứu chuộc triệt để cho dân của Thiên Chúa, ơn thanh tẩy khỏi mọi bất trung của họ[25], và ơn cứu độ ấy sẽ bao gồm tất cả các dân tộc[26]. Đặc biệt những người nghèo khó và khiêm nhu của Chúa[27] sẽ ấp ủ niềm hy vọng này. Những phụ nữ thánh thiện như các bà Sara, Rêbecca, Rachel, Miryam, Đêbora, Anna, Juđitha và Esther, đã gìn giữ cho niềm hy vọng cứu độ ấy của Israel luôn sống động. Hình ảnh tinh tuyền nhất của niềm hy vọng này là Đức Maria[28].
Số 716. Đoàn dân “của những người nghèo”[29], những người khiêm nhu và hiền lành, hoàn toàn phó thác cho kế hoạch bí nhiệm của Thiên Chúa của mình, những người mong chờ công lý không bởi người ta nhưng bởi Đấng Messia, đoàn dân ấy cuối cùng là công trình cao cả mà âm thầm của Chúa Thánh Thần, trải suốt thời gian của các Lời hứa, để chuẩn bị cho cuộc Ngự đến của Đức Kitô. Phẩm chất tâm hồn của những người đó, đã được thanh tẩy và soi sáng bởi Thần Khí, được diễn tả trong các Thánh vịnh. Nơi những ngươi nghèo này, Thần Khí chuẩn bị cho Chúa “một dân hoàn hảo”[30].
Bài giảng Đức Thánh Cha - Chúa nhật 4 Thường niên năm A
Đây là những bài giảng và huấn dụ của Đức Thánh Cha trong các thánh lễ và các buổi đọc kinh Truyền tin với các tín hữu vào Chúa nhật 4 Thường niên năm A.
|
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 4 Thường niên năm A (29/01/2023) - Những người có tinh thần nghèo khó
Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 4 Thường niên năm A (29/01/2017) - Lý do của mối phúc
Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 4 Thường niên năm A (30/01/2011) - Các mối phúc là những món quà của Thiên Chúa
Đức Gioan Phaolô II, Bài giảng Chúa nhật 4 Thường niên năm A (28/01/1996) - Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó
|
Suy niệm (Lm. I-nha-xi-ô Hồ Văn Xuân)
CHIA SẺ LỜI CHÚA
1. Bài đọc 1 : Xp 2,3 ; 3,12-13
Đức Chúa đã giấu, đã giữ lại
1. Là một đất nước nằm trên một hành lang quan trọng, ở giữa nhiều quốc gia thù địch và lắm tham vọng, dân Ít-ra-en không thể nào bình chân như vại đứng đó và dửng dưng với mọi biến động của lịch sử. Có lẽ chính vì tương lai của đất nước, vì sự tồn vong của một dân tộc tự nhận mình là dân riêng của Chúa mà họ có những lầm lẫn đáng trách. Các đế quốc đang ào ạt thôn tính xứ này nước nọ, đang tiến quân ngay bên hông Ít-ra-en ; phải làm sao đây ? Phải cầu viện hay phải liên minh ? Phải củng cố quân lực và trang bị vũ khí hay phải tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa và sống theo những chỉ thị của Người ?
Chúng ta đang ở vào thế kỷ VII trước Công nguyên, tình hình ở Ít-ra-en thật tồi tệ vì vua Giô-si-gia-hu lên ngôi lúc mới tám tuổi, sau khi cha của ông, vua A-môn bị các thuộc hạ giết chết, vì tân vương còn quá nhỏ, mọi việc triều chính hầu như nằm gọn trong tay các quan đại thần.
Bối cảnh chính trị, xã hội và tôn giáo lúc ngôn sứ Xô-phô-ni-a bắt đầu rao giảng thật là bi thảm. Về đời sống tôn giáo, người ta từ bỏ Thiên Chúa để thờ lạy các ngẫu thần mà vua Mơ-na-se và A-môn đã đưa vào Giu-đa. Về đời sống đức tin, người ta nghi ngờ sự hiện diện và hành động của Thiên Chúa trong lịch sử cũng như trong cuộc đời của họ. Họ chỉ cậy dựa vào vật chất, bạc tiền và không còn mảy may quan tâm đến Thiên Chúa. Về đời sống xã hội và văn hoá, người ta chạy theo những thói đời, những cách sống ngoại lai, từ bỏ chính cái gốc rễ và bản sắc dân tộc của mình. Dân chúng thì như thế, còn các nhà lãnh đạo Ít-ra-en cũng chẳng hơn gì ! Như hậu quả còn sót lại của hai triều vua vô đạo và nhu nhược trước kia, các thủ lãnh thì như sư tử rống, các thẩm phán thì như sói ăn đêm, các ngôn sứ là hạng người khoác lác ba hoa, là những kẻ phản bội, các tư tế làm ô uế Đền Thờ và vi phạm Lề Luật ... Trong bối cảnh đó, ngôn sứ Xô-phô-ni-a được Thiên Chúa sai đến để cảnh cáo, để kêu gọi mọi người thay đổi và canh tân đời sống, may ra sẽ thoát được ngày nổi giận của Chúa. “Ta sẽ dang tay đánh phạt Giu-đa và toàn thể dân cư Giê-ru-sa-lem : Ta sẽ tận diệt khỏi nơi này số còn sót lại của Ba-an và xoá bỏ tên của hàng tư tế bất hợp pháp” (Xp 1,4). Đây là nguồn gốc của bài hát nổi tiếng trong thánh lễ an táng “Dies Irae” (Requiem).
2. Song song với những lời đe doạ, sách ngôn sứ Xô-phô-ni-a cũng gửi một sứ điệp khích lệ đến những người khiêm tốn. Ta thấy sứ điệp của ngôn sứ Xô-phô-ni-a gồm hai khía cạnh : lời đe doạ dành cho những kẻ kiêu căng, ngạo mạn, lời động viên, khích lệ dành cho những ai khiêm nhường, những người thành tâm thiện chí, những người đó không phải sợ cơn thịnh nộ của Chúa : “Hỡi tất cả những ai nghèo hèn trong xứ sở, những kẻ thi hành mệnh lệnh của Đức Chúa, anh em hãy tìm kiếm Người ; hãy tìm sự công chính, hãy tìm đức khiêm nhường thì may ra anh em sẽ được che chở trong ngày thịnh nộ của Đức Chúa.” Ngày thịnh nộ đó, chính là ngày Thiên Chúa thực hiện cuộc tạo dựng mới, ngày huy hoàng cho tất cả những ai đặt trọn niềm tin vào Chúa : cái Ác dưới mọi hình thức sẽ bị huỷ diệt hoàn toàn. Chúng ta đừng quên rằng trong Kinh Thánh, sự báo thù của Thiên Chúa lúc nào cũng chỉ có một nghĩa duy nhất là chống lại cái Ác, luôn muốn dìm con cái Người xuống vực sâu của tội lỗi. Thiên Chúa luôn đồng hành với con cái Người để vực họ dậy, giúp họ tìm lại can đảm, niềm vui để vững vàng tiến bước trên con đường theo Chúa.
3. Chúng ta tham dự vào việc phán xét : Thiên Chúa sẽ không trừng phạt người công chính cùng với kẻ tội lỗi. Tất cả chúng ta đều biết nhân loại gồm hai hạng người : một bên là những người công chính, những người tốt, những người khiêm tốn ; một bên là những kẻ tội lỗi, những kẻ kiêu căng, ngạo mạn. Chúng ta có thể thuộc về một trong hai hạng người đó.
Chủ đề phán xét đi đôi với một chủ đề khác, chủ đề số sót của Ít-ra-en, xuất hiện trong các sách I-sai-a, A-mốt, Mi-kha : đó là một sự quảng diễn, một kiểu diễn tả mới về niềm tin vào sự trung thành của Thiên Chúa ; bởi vì thứ nhất, Thiên Chúa đã chọn Ít-ra-en như là một khí cụ đặc biệt để thực hiện kế hoạch cứu độ của Người dành cho nhân loại ; thứ hai, Thiên Chúa là Đấng trung tín, cho nên dù bất cứ chuyện gì xảy ra, Thiên Chúa vẫn luôn cố gắng sắp xếp để cứu độ ít ra một số sót của dân Ít-ra-en. Ngôn sứ Xô-phô-ni-a lấy lại chủ đề này : khi tất cả mọi điều xấu xa bị huỷ diệt hết khỏi Giê-ru-sa-lem, Thiên Chúa để cho tồn tại một số sót nhỏ bé những người luôn trung thành với Thiên Chúa : Ít-ra-en, “Ta sẽ cho sót lại giữa ngươi một dân nghèo hèn và bé nhỏ ; chúng sẽ tìm nương ẩn nơi danh Đức Chúa. Số dân Ít-ra-en còn sót lại sẽ không làm chuyện tàn ác bất công, cũng không ăn gian nói dối và miệng lưỡi chúng sẽ không còn phỉnh gạt.”
Chúng ta, các Ki-tô hữu, chúng ta cũng hãy sống như vậy : nương ẩn nơi Chúa, đặt trọn niềm tin vào Người, không làm chuyện tàn ác bất công, không ăn gian nói dối, không lừa gạt ai.
2. Đáp ca : Tv 145
Thánh vịnh 145 là một lời xác nhận những người cậy trông Chúa chắc chắn sẽ tìm được hạnh phúc mà mình mong muốn, vì “Chúa là Đấng giữ lòng trung tín mãi muôn đời, xử công minh cho người bị áp bức, ban lương thực cho kẻ đói ăn, giải thoát những ai tù tội, mở mắt cho kẻ mù loà, cho kẻ bị dìm xuống đứng thẳng lên, yêu chuộng những người công chính, phù trợ những khách ngoại kiều, nâng đỡ cô nhi quả phụ, phá vỡ mưu đồ bọn ác nhân. Chúa nắm giữ vương quyền muôn muôn thuở.”
Khi hát thánh vịnh này, dân Ít-ra-en ôn lại toàn bộ lịch sử của mình và dâng lời tạ ơn Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, vì chính họ đã bị áp bức bên Ai-cập, bên Ba-by-lon.
Thánh vịnh 145 hôm nay được soạn sau khi dân Ít-ra-en từ chốn lưu đày Ba-by-lon trở về, thấm đẫm niềm vui khi được trở về quê cha đất tổ, vì Thiên Chúa chứng tỏ lòng trung tín của Người.
Dân Ít-ra-en đã trải qua đói khát ở sa mạc Xi-nai trong cuộc Xuất hành, Chúa đã gửi cho họ man-na, chim cút và nước uống thoả thuê. Dần dần, người ta khám phá ra rằng Chúa luôn quan tâm giúp đỡ những người đang gặp hoạn nạn, đau khổ vì bệnh tật, phù trợ những khách ngoại kiều và nâng đỡ cô nhi quả phụ.
Hãy đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa để được hạnh phúc mà ta mong muốn.
3. Bài đọc 2: 1 Cr 1,26-31
Sự khôn ngoan của thế gian và sự khôn ngoan theo Ki-tô giáo
Trong cả đoạn này, thánh Phao-lô đặt cái khôn của loài người đối lập với sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Sự khôn ngoan của Thiên Chúa là thể hiện công trình cứu độ toàn diện: công chính hoá, thánh hoá và cứu chuộc loài người. Vì vậy, tất cả các phương tiện Người dùng để hoàn thành công cuộc đó đều được coi là khôn ngoan, tuy loài người cho là điên dại : thập giá, lời rao giảng, những gì yếu kém, hèn mạt, không đáng kể, thánh Phao-lô không lên án phần trí tuệ của khôn ngoan loài người, vì nó là một ân huệ Chúa ban, giúp con người có khả năng nhận biết Thiên Chúa. Hơn nữa, kể từ vua Sa-lô-môn, đó là một nhân đức người ta xin khi cầu nguyện và ngôn sứ I-sai-a nói về sự khôn ngoan như là một ân huệ của Chúa Thánh Thần. Khi nói về Đấng Mê-si-a, ngôn sứ I-sai-a đã nói : “Ta cho Thần Khí Ta ngự trên ngươi, thần khí khôn ngoan và hiểu biết” ; điều đáng lên án là sự khôn ngoan lý sự, tự mãn của phần đông người Hy-lạp hoặc đòi hỏi Thiên Chúa làm theo nguyện vọng của mình, như đa số người Do-thái đòi hỏi. Sức mạnh của Thiên Chúa là dùng chính những gì thế gian cho là điên dại, để thắng cái khôn ngoan của nó, làm cho kế hoạch cứu độ của Người được thành tựu. Khi đối chiếu hai lẽ khôn ngoan trên, thánh Phao-lô cũng nói rõ lập trường hoạt động của ngài : không rập theo óc tính toán của xã hội Cô-rin-tô, nhưng theo đường lối của thập giá Đức Ki-tô.
4. Bài Tin Mừng : Mt 5,1-12a
1. Chúa Giê-su đã khởi đầu sứ vụ công khai của Người, rao giảng Tin Mừng cứu độ với những thành công rực rỡ, với đám đông dân chúng luôn bám theo Người, và Người thấy đã đến lúc cần phải công bố sứ điệp của mình. Thánh Mát-thêu nêu những lời nói của Chúa Giê-su theo kiểu nói của các ngôn sứ thời Cựu Ước : “Người mở miệng giảng dạy họ.” Đây là kiểu nói sê-mít cho thấy tính cách trang trọng của những gì Chúa Giê-su sắp nói với đám đông dân chúng. Mười hai thế kỷ trước, trên một ngọn núi khác, núi Xi-nai, ông Mô-sê đã truyền đạt cho dân chúng Mười Điều Răn của Chúa. Còn trên một ngọn núi ở miền Ga-li-lê, Chúa Giê-su đi xa hơn nữa khi mặc khải về một cách thức mới để sống các điều răn này. Người trình bày sự nghịch lý mà thánh Phao-lô nói đến trong thư gửi tín hữu Cô-rin-tô, sự nghịch lý giữa khôn ngoan của Thiên Chúa hoàn toàn trái ngược với khôn ngoan của loài người.
2. Mỗi câu trong bài Tin Mừng bắt đầu bằng từ “Phúc thay” rất quen thuộc trong Cựu Ước, một lời chúc mừng đẹp nhất. Bằng cách này, Chúa Giê-su mời gọi chúng ta có một cái nhìn khác, nhìn mọi sự việc với cái nhìn của chính Thiên Chúa. Người cho ta thấy sự hiện diện của Nước Trời ở trong những tình trạng mà chúng ta không trông đợi : tâm hồn nghèo khó, hiền lành, sầu khổ, khát khao nên người công chính, thương người, xây dựng hoà bình. Việc khám phá này hoàn toàn trái ngược với những gì người ta thường nghĩ. Ta có thể nói tất cả các mối phúc đều hiện hữu trong mối phúc đầu tiên : “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.” Ở đây, Chúa Giê-su không hề lý tưởng hoá sự khó nghèo vật chất đâu. Kinh Thánh luôn trình bày sự nghèo khó là một sự dữ mà ta cần phải vượt thắng. Tuy nhiên, trước tiên ta cần phải nói rằng đám đông theo Chúa Giê-su không phải là những người quan trọng, có ảnh hưởng trong xã hội Do-thái lúc bấy giờ. Thứ hai, từ “người nghèo” trong Cựu Ước không bao giờ liên quan gì đến tài khoản ở ngân hàng cả : người nghèo theo nghĩa Kinh Thánh (anawim) là những người không có tâm hồn cao ngạo hoặc cái nhìn kiêu căng. Người ta gọi là những người lưng còng. Đó là những người bé mọn, khiêm tốn theo ngôn ngữ của các ngôn sứ. Họ không nổi tiếng và hài lòng về chính bản thân mình, nhưng họ cảm thấy mình còn thiếu một cái gì đó, mà chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể ban cho họ những gì họ còn thiếu. Chúng ta lại thấy ở đây dưới ngòi bút của thánh Mát-thêu một tiếng dội của dụ ngôn người Pha-ri-sêu và người thu thuế. Người Pha-ri-sêu thấy mình là một người rất đạo đức và cảm thấy mình không cần đến ơn cứu độ của Thiên Chúa nữa, vì tâm hồn ông tràn ngập cái tôi của mình ; trong khi người thu thuế, tự nhận mình là kẻ tội lỗi, nên ông hướng về Thiên Chúa và chờ đợi Người ban ơn cứu độ, và Chúa đã ban cho ông như lòng ông mong ước.
3. Vấn đề ta bàn ở đây là “tinh thần nghèo khó”, nghĩa là ta đề cập đến “người tìm Chúa làm nơi ẩn náu của mình”, như ngôn sứ Xô-phô-ni-a đã nói, ai cần Chúa, sẽ nhận được ơn Chúa như là quà tặng của cuộc đời để phục vụ Nước Trời. Điều đặc biệt quan trọng đối với chúng ta là bắt chước Chúa Giê-su. Người là người nghèo tuyệt vời nhất, hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Bài Tin Mừng hôm nay đưa ra một dung mạo của chính Chúa Giê-su. Ta thấy Người hiền lành và hay thương xót, chạnh lòng thương trước nỗi thống khổ của con người, tha cho những kẻ đã giết mình, khóc trước sự đau khổ của những người này, sự cứng lòng của những người khác, đói khát sự công chính và chấp nhận bị bách hại, nhất là luôn sống “tinh thần nghèo khó”, nghĩa là chờ đợi tất cả từ Chúa Cha và tạ ơn Chúa Cha vì đã “mặc khải” điều ấy cho những người bé mọn (chuyện các thiếu niên Do-thái ở Ba-by-lon trong sách Đa-ni-en). Ta cũng có thể đọc bài Tin Mừng hôm nay như là một mô tả về Nước Trời : đó là nơi mà lòng khiêm tốn, hiền lành, niềm vui, công bằng, lòng thương xót, trong sạch, hoà bình, v.v... luôn luôn hiện hữu.
Kết: Một khi đã gia nhập Nước Trời qua bí tích Thánh Tẩy và bằng lòng tin vào lời Chúa Giê-su, các mối phúc trở thành chương trình sống của chúng ta như sau : nếu tin vào Chúa Giê-su, thì nghèo khó, hèn mọn, sầu khổ không hẳn là bất hạnh, mà trái lại, của cải, danh vọng và sung sướng lại có thể trở thành trở ngại cho con người tìm được hạnh phúc mà mình mong muốn. Ba mối phúc đầu dạy ta phải vượt qua được những trở ngại đó. Ba mối phúc tiếp theo giúp xây dựng đời sống trên ba cơ sở vững chắc, theo ba hướng căn bản : Thiên Chúa (khát khao nên người công chính), tha nhân (thương người) và bản thân (tâm hồn trong sạch). Phúc thứ bảy nói đến sứ mạng hoà giải của người môn đệ : biến cả thế giới thành một gia đình, trong đó mọi người đều là anh em, cùng một Cha với nhau trong Chúa Giê-su. Cuối cùng, phúc thứ tám là tột đỉnh của đời sống người môn đệ, được đồng hoá với Thầy của mình.
Ta hãy sống theo tinh thần “tám mối phúc thật”, vì đó là con đường dẫn ta tới hạnh phúc mà mỗi người chúng ta trông đợi.
Cầu nguyện :
Lạy Chúa Giê-su, “tám mối phúc thật” có thể nói là “Hiến chương Nước Trời” mà người Ki-tô hữu chúng con phải nỗ lực sống trong đời sống đức tin thường ngày. Xin Chúa ban thêm ơn trợ giúp cho tất cả chúng con.
Tự vấn :
Chúng ta đã sống tinh thần nghèo khó của “tám mối phúc thật” chưa ?
C. BÀI ĐỌC THÊM
1. “Lắng nghe lời Đức Giê-su trong tương quan sống động với con người của Người”
(Mgr. L. Daloz, trong “Nước Trời đến gần”, Desclée de Brouwer, 1994, tr. 43-44).
Mấy lời dẫn nhập và “diễn từ” của Đức Giê-su được tập hợp lại trong bài “diễn từ” : “Thấy đám đông, Đức Giê-su lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên. Người lên tiếng dạy họ rằng.” Ta đừng khinh thường bỏ qua những hàng này. Nhờ chúng, toàn bộ diễn từ theo sau mới có ý nghĩa, bởi vì bài diễn từ này không chỉ đơn giản là một chuỗi những câu trống không nói lên những quy tắc về một lối sống đạo đức. Nó là lời của Đức Giê-su : Người lên tiếng dạy họ rằng. Đừng quên con người Đức Giê-su. Người nói với đám đông và đám đông phản ứng : ở cuối Bài Giảng Trên Núi, tác giả Tin Mừng nói với chúng ta : “Khi Đức Giê-su giảng dạy những điều ấy xong, dân chúng sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư của họ” (Mt 7,28-29). Điều đánh động đám đông không phải là giáo thuyết nhưng là con người của Đức Giê-su và thẩm quyền nơi lời của Người.
Chúng ta cũng vậy, hãy nghe lời Đức Giê-su không như những chân lý ngàn đời, nhưng trong mối tương quan sống động với bản thân Người. Chính con người của Người làm cho giáo huấn của Người có thẩm quyền. Chiêm niệm những gì mình đọc là điều cần thiết, đừng chỉ suy nghĩ về vẻ đẹp và về những đòi hỏi trong lời Đức Giê-su nói. Thấm nhuần lời Đức Giê-su biến thành một bảng xét mình cũng không đúng. Vì như vậy, lời Chúa sẽ trở thành một đối tượng chiếm hữu, một phương tiện sử dụng … để xây dựng một đời sống tốt lành, một sự hoàn thiện cho bản thân ta, như những người Biệt phái. Trái lại, chúng ta phải đón nhận lời từ miệng Đức Giê-su, phải chăm chú vào điều Người muốn nói với chúng ta … chứ không phải vào điều mà những lời này nói với chúng ta, vì làm như vậy, có nguy cơ là “những lời này chẳng nói gì với chúng ta cả” ! Một nguy hiểm nghiêm trọng là ta thường đọc Tin Mừng chỉ như một bản văn đơn thuần, như một đối tượng để biến thành “phương tiện” sử dụng. Tin Mừng là nơi gặp gỡ, nơi lắng nghe. Khi ta không hiểu rõ lời Người nói, chúng ta có thể xin Người giải thích để ta hiểu. Khi ta không thể thực hiện được điều Người đòi hỏi, ta xin Người giúp đỡ. Gặp gỡ Đức Giê-su, nghe Người, cầu xin Người cho ta có tai để biết nghe, cho ta sức mạnh để thực hiện, đó là cách ta đọc Tin Mừng. Ta hãy lắng nghe những gì Đức Giê-su nói trong bài diễn từ trên núi này. Cầu xin Người cho chúng ta hiểu lời Người dạy và đem ra thực hành.
2. “Các mối phúc : lời hứa và món quà hạnh phúc”
(J. Guillet, trong “Đức Giê-su trong đức tin của những môn đệ đầu tiên”, Desclée de Brouwer, 1995, tr. 96-97).
Khi mở đầu sứ điệp của Người bằng các mối phúc, Đức Giê-su không muốn phác hoạ một con đường đưa đến hạnh phúc, một lộ trình buộc ta phải theo, nhưng Người hứa một quà tặng mà chỉ có Người mới có thể ban. Người không bảo ta đi tìm hạnh phúc hay chờ đợi nó. Đây chỉ là sự mơ ước theo tính toán của ta, niềm hy vọng phát sinh từ những ước muốn của ta. Ngay trước khi công bố các mối phúc, Đức Giê-su đã kêu gọi dân chúng sám hối và tin tưởng, “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng !” Khi mời gọi sám hối và công bố Tin Mừng trọng đại, Đức Giê-su xuất hiện như một ngôn sứ cao cả nhất từ trước tới nay. Khi tung ra các mối phúc, Người tỏ ra mình là người khôn ngoan và giới thiệu một kinh nghiệm. Tin Mừng vừa là lời tiên tri của một biến cố vĩ đại, vừa là sự chuyển thông đức khôn ngoan.
Tin Mừng không phải là đi tìm hạnh phúc nhưng là lời hứa và quà tặng hạnh phúc, vì Thiên Chúa đã tạo dựng con người để họ được hạnh phúc. Nhưng đó không phải là thứ hạnh phúc mà họ ước mơ và hăng say chinh phục : Hạnh phúc đây chính là sự sống của Thiên Chúa ban cho con người và trong hạnh phúc đó, Người quy tụ tất cả con cái Người lại. Ta có thể làm sai lạc ý nghĩa của các mối phúc cũng như làm méo mó hình ảnh của Đấng Thiên Sai đến nỗi không còn nối kết hình ảnh ấy với Đức Ki-tô được nữa. Người không nói : Anh em nghèo khổ nên anh em sẽ được hạnh phúc ; Người cũng không nói : Anh em hãy nghèo khổ để được hạnh phúc. Người chỉ nói : Anh em nghèo khổ, hạnh phúc đến với anh em. Người có thể nói điều đó bởi vì Người đem đến hạnh phúc này, bởi vì chính bản thân Người là niềm vui và hạnh phúc của Thiên Chúa. Nhưng để cảm nhận được điều này, phải tin và ưng thuận theo Người.
Hạnh phúc này không thuộc về một thế giới khác với thế giới ta đang sống. Nó cũng không được cất giấu ở một nơi bí mật. Nhưng ngay từ bây giờ nó đã được ban tặng cho tất cả mọi người, và trước hết là những người đau khổ. Những phép lạ Đức Giê-su đã gieo trên đường rao giảng là dấu chỉ cho thấy Người chính là cội nguồn hạnh phúc. Đây chỉ là những dấu chỉ, chúng không biến đổi hoàn cảnh ta đang sống, nhưng chỉ ra một lối thoát và cho ta nghe được lời mời : “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28-30). Đó là phong cách và ngôn ngữ của một tôn sư về sự khôn ngoan, của một người đã sống một kinh nghiệm và tự biết mình có thể truyền đạt nó. Đó cũng chính là người công bố các mối phúc và ngôn ngữ vẫn là một : Phúc cho những ai hiền lành = Ta là Đấng hiền lành ; nghỉ ngơi = hoà bình. Từ dùng có thể thay đổi, nhưng vẫn là kinh nghiệm ấy, tiếng nói ấy, tấm lòng ấy.
Chỉ có Người mới biết hạnh phúc là gì ; chỉ có Người mới có thể ban hạnh phúc vì hạnh phúc là quà tặng của Thiên Chúa.
1. Suy niệm ( TGM Giuse Nguyễn Năng )
Suy niệm: Mở đầu bài giảng trên núi, Ðức Giêsu tuyên bố những điều kỳ lạ. Những điều người đời cho là mối hại thì Ngài lại bảo là mối phúc. Nghèo khó, ưu phiền, bị bách hại... Những điều người đời trốn tránh thì Ðức Giêsu lại ca tụng. Ðức Giêsu loan báo một số điều mà người đời khó chấp nhận. Phải chăng Ðức Giêsu chủ trương phản tiến bộ? Phải chăng giáo thuyết của Ðức Giêsu đề cao thụ động, an phận? Chúng ta hãy xin Thánh Thần của Ðức Giêsu giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của sứ điệp.
Cầu nguyện: Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến soi sáng cho chúng con hiểu được giáo huấn của Ðức Giêsu trong đoạn Tin Mừng này. Ðức Giêsu, Ngài là Thiên Chúa với tất cả uy quyền tuyệt đối. Tại sao Ngài lại trở nên nghèo hèn như chúng con? Ðức Giêsu suốt một đời chỉ biết dạy dỗ, giúp đỡ những người đau khổ, bệnh tật. Ngài có tội gì mà tại sao bị kết án tử hình?
Nhưng chính nhờ cái chết của Ðức Giêsu mà chúng con được ơn cứu độ. Vâng, lạy Chúa, giờ đây chúng con hiểu được phần nào ý nghĩa của cái nghèo, cái khổ. Nghèo khổ tự nó không phải là mối phúc, nhưng nếu là dấu chứng của một tình yêu vị tha, thì nó sáng chói và trở nên vô giá. Lạy Ðức Giêsu, xin hãy dạy con biết yêu như Chúa yêu. Amen.
Ghi nhớ: “Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó”.
Suy niệm (Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ)
PHẦN THƯỞNG LỚN LAO TRÊN TRỜI
Sống ở đời, tự nhiên ai cũng đi tìm hạnh phúc.
Chẳng ai muốn gặp tai họa.
Chữ phúc hay được treo trong nhà vào ngày Tết.
Nó thường để chỉ những điều tốt lành, vui vẻ, may mắn,
những điều mà con người ai cũng ước mơ.
Người Do-thái cũng coi trọng chữ phúc.
Trong Cựu Ước, ta thấy có khá nhiều câu: “Phúc thay…”
Nói chung, ai sống trung tín theo luật Chúa
và sống tử tế, quảng đại với tha nhân,
người ấy sẽ được hưởng phúc lành Chúa ban.
Phúc ấy bao gồm mọi điều con người mơ ước,
như sống lâu, phú quý, đông con nhiều cháu…
Nhưng bình an là phúc lớn mà người Do-thái ước mong.
Bình an bao gồm mọi ơn phúc Chúa ban cho con người.
Đức Giêsu đi rao giảng lúc Ngài trên ba mươi tuổi.
Ngài đã kêu gọi một số môn đệ đi theo.
Tin mừng mà Ngài rao giảng đó là:
“Anh em hãy hối cải, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 4,17).
Vì Nước Trời đã đến gần rồi, nên cần hối cải,
cần sống một đời sống mới, phù hợp với Nước Chúa.
Đức Giêsu đã lên núi, ngồi xuống như một vị Thầy,
và giảng cho các môn đệ Bài giảng đầu tiên.
Ngài bắt đầu Bài giảng bằng các Mối Phúc,
và Ngài muốn các môn đệ sống các Mối Phúc đó.
Khi nghe Thầy Giêsu nói về các Mối Phúc
ta không thấy Thầy hứa ban cho các môn đệ
của cải trần gian hay những gì loài người coi trọng.
Ngài chỉ hứa làm cho mối dây giữa họ với Thiên Chúa
trở nên thân thiết hơn, và bền chặt hơn.
Thiên Chúa sẽ ủi an những ai sầu khổ,
thỏa mãn những ai khao khát thực thi thánh ý.
Thiên Chúa sẽ xót thương những ai biết xót thương,
và gọi là con những ai xây dựng hòa bình.
Thiên Chúa không cho họ những phúc lộc chóng qua.
Ngài cho họ hưởng nếm Nước Trời ngay từ đời này.
Ngay từ bây giờ, “Nước Trời là của họ” (Mt 5,3.10).
Thiên Chúa không thưởng vật chất ở đời này.
Ngài dành cho họ phần thưởng trên trời (Mt 5,12a).
Các Mối Phúc là con đường Chúa Giêsu đã đi.
Ngài đã nếm sự khó nghèo khi không có chỗ tựa đầu,
khi có lúc thèm ăn một trái vả cho đỡ đói.
Ngài đã trải qua cơn sầu khổ trong Vườn Dầu,
chịu sỉ vả và vu khống đủ điều xấu xa,
cuối cùng chấp nhận cái chết của người bị bách hại.
Chúa Giêsu đã sống hiền lành
trước khi mời ta học sự hiền lành nơi trái tim Ngài.
Trái tim ấy cũng là trái tim trong ngần,
luôn thấy Thiên Chúa và luôn phản chiếu Thiên Chúa.
Trái tim không bị trói buộc bởi những toan tính vị kỷ,
chỉ khao khát làm trọn ý Thiên Chúa.
Trái tim thương xót khi nhìn đến tội nhân, bệnh nhân,
khi thấy đám đông bơ vơ lạc lõng.
Qua cái chết và phục sinh, Ngài đã để lại bình an.
Máu Ngài hòa giải con người với nhau và với Thiên Chúa.
Sống các Mối Phúc là con đường nên thánh của kitô hữu.
Không thể sống nếu không dám liều.
Sống nghèo khó, sống hiền lành, sống trong sạch,
sống công chính đến nỗi chịu bách hại,
thật không dễ sống như thế giữa cuộc đời này.
Sống Mối Phúc không phải là êm ái đi trên cỏ xanh,
xin cho con thấy mình hạnh phúc giữa bao thách đố.
LỜI NGUYỆN
Lạy Chúa Giêsu,
Trong Bài Giảng trên núi,
Chúa đã dạy con những Mối Phúc của Chúa.
Xin cho con biết sống những mối phúc khác trong Tin mừng.
Xin cho con có phúc như Mẹ Maria,
người đã cưu mang và sinh ra Chúa,
người đã tin Thiên Chúa sẽ thực hiện lời Ngài phán dạy.
Xin cho con hưởng mối phúc của Tôma,
người không thấy mà tin,
hưởng mối phúc của anh đầy tớ
khi chủ về bất ngờ còn thấy tỉnh thức.
Xin cho con có phúc vì đã phục vụ Chúa
nơi người đói khát, trần trụi, yếu đau,
có phúc vì dám cúi xuống rửa chân
cho những người anh em bé nhỏ.
Xin cho con có phúc như Phêrô,
vì được Chúa Cha mặc khải,
có phúc như các tín hữu sơ khai,
dám chịu khổ vì sống công chính, hay chịu sỉ nhục vì Chúa.
Cuối cùng, xin cho con hiểu rằng
vì cho thì có phúc hơn là nhận,
nên mỗi lần con trao đi để người khác hạnh phúc,
con lại thấy Chúa tặng một mối phúc mới cho con.